Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

Đáp án câu hỏi thảo luận

Họ tên: Phan Văn Phương
Lớp: H689 

CÂU HỎI THẢO LUẬN
Môn:  NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
(PHẦN TRIẾT HỌC)

BÀI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CNDVBC

1. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
v Khái niệm:
- Vật chất: Là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
v Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
        Triết học Mác – Lê nin khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức quyết định ý thức và ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
       a.Vai trò của vật chất đối với ý thức:
      Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước,ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh đối với vật chất.
- Vật chất là tiền đề, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức.
- Điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thếđó.
- Vật chất biến đổi thì ý thức biến đổi theo.
- Vật chất là điều kiện để biến ý thức thành hiện thực.
        b.Vai trò của ý thức đối với vật chất.
- Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tácđộng trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Nhờ có ý thức con người nhận thức được quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan.
- Ý thức tác động lại vật chất theo hai chiều hướng:
+Tích cực: ý thức có thể trở thành động lực phát triển của vật chất.
+Tiêu cực: Ý thức có thể là lực cản phá vỡ sự vận động và phát triển của vật chất khi ý thức phản ánh sai, phản ánh xuyên tạc các quy luật vận động khách quan của vật chất.
v Ý nghĩa phương pháp luận:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; v ìvậy con người phải tôn trọng tính khách quan, đồngthời phát huy tính năng động, chủ quan của mình.
-Ý thức có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan. Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi conngười phản ánh sai thế giới khách quan.
       Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại hoặc bệnh chủ quan duy ý chí.
- Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luậ tkhách quan.
v Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:
- Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác.
- Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác.

2.Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
v Khái niệm về mối liên hệ phổ biến: 
 Mối liên hệ phổ biến là khái niệm để chỉ sự: 
          - Tác động 
          - Ràng buộc 
          - Qui định 
          - Chuyển hóa 
Của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Sự liên hệ biểu hiện ở 3 mặt: 
          - Giữa các mặt trong cùng một sự vật hiện tượng 
          - Giữa các sự vật khác với nhau 
          - Giữa các sự vật với môi trường. 
        Các tính chất của mối liên hệ:
          a.Tính khách quan: 
         - Xuất phát từ tính thống nhất vật chất của thế giới
         - Mối liên hệ tồn tại bên ngoài ý thức con người 
          b.Tính phổ biến 
         - Không có sự vật hiện tượng nào không có mối liên hệ bởi vì chúng tồn tại trong 1 chỉnh thể thống nhất. 

         - Mối liên hệ tồn tại trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy. 
          c. Tính đa dạng: 
         - Xuất phát từ tính đa dạng thế giới vật chất dẫn đến mối liên hệ đa dạng, biểu hiện ở: 
            + Liên hệ trong không gian (cùng 1 thời điểm diễn ra nhiều sự kiện) 
            + Liên hệ trong thời gian ( là sự liên hệ kế tiếp nhau của các sự kiện ) 
            + Liên hệ bên trong ( là mối liên hệ xảy ra bên trong sự vật hiện tượng.) 
            + Liên hệ bên ngoài (là mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác) 
            + Liên hệ cơ bản 
            + Liên hệ không cơ bản. 
         - Mỗi kiểu mối liên hệ có vị trí vai trò và đặc điểm riêng của nó. 
           Ý nghĩa, phương pháp luận: 
            + Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải có quan điểm toàn diện, phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ và khâu trung gian. 
Mác nói: “ Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội.” 
            + Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét 1 sự vật hiện tượng nào đó, 1 con người nào đó, phải gắn với những hoàn cảnh điều kiện cụ thể. 
            + Chống lại cách xem xét cào bằng, phiến diện ngụy biện.
         Nguyên lý về sự phát triển: 
         Quan niệm biện chứng: 
            + Phát triển là 1 quá trình tiến lên từ thấp đến cao, quá trình đó vừa dần dần, vừa nhảy vọt, cái mới ra đời thay thế cái cũ. 
            + Phát triển là quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến thay đổi về chất diễn ra theo đường xoáy ốc. 
            + Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật ( mâu thuẫn bên trong ) 
            + Phát triển không bao hàm mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát sự vận động đi lên cái mới thay thế cái cũ. 
            + Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực. 
         - Giới vô cơ biểu hiện dưới dạng biến đổi các yếu tố làm nảy sinh các hợp chất phức tạp, xuất hiện các hợp chất hữu cơ ban đầu. 
         - Giới hữu cơ thể hiện ở khả năng thích nghi. 
         - Vấn đề xã hội: sự phát triển của tư duy thể hiện khả năng con người làm chủ thế giới. 
          Tính chất của sự phát triển: 
         a. Tính khách quan: 
     - Phát triển là thuộc tính vốn có của sự vật. 
         b. Tính phổ biến: 
     - Phát triển diễn ra ở cả 3 lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy. 
         c. Tính đa dạng: 
     - Mỗi sự vật hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau . 

     - Quá trình phát triển chịu sự tác động khác nhau có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm. 
       Ý nghĩa phương pháp luận: 
       + Trong nhận thức và hành động thực tiễn phải có quan điểm phát triển khi xem xét đánh giá các hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động, sự biến đổi. 
       + Phải nhìn thấy cái mới, xu thế tất yếu của sự phát triển có thái độ ủng hộ cái mới tạo điều kiện cho cái mới ra đời. 
       + Quan điểm phát triển là cơ sở và niềm tin cho thái độ lạc quan khoa học của người cách mạng. 
        + Cần chống lại quan điểm nóng vội duy ý chí muốn xóa bỏ cái cũ khi chưa có đủ điều kiện, quan điểm bảo thủ trì trệ gây cản trở cho sự phát triển.

     3.Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
v Nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là:
       Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng.                     Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc,động lực cơ bản,phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển.Theo quy luật này nguồn gốc và động lực cơ bản phổ biến của mọi quá trình vận động,phát triển chính là mâu thuẫn khách quan,vốn có của sự vật hiện tượng.
       Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có 2 nội dung chính:
-         Khái niệm về mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn.
       + Khái niệm mâu thuẫn : dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất,đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật,hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau.
      Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập
       + Các tính chất chung của mâu thuẫn
-          Mâu thuẫn có tính khách quan và phổ biến. Như vậy sự sống cũng là mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình,mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm rứt thì sự sống sẽ không còn nữa.                                                                                                                                                                                                                                                                                                   
-         Mâu thuẫn không những có tính khách quan,phổ biến mà còn đa dạng,phong phú.Tính đa dạng của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ: mỗi sự vật hiện tượng,quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau,biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau,chúng giứ vị trí vai trò khác nhau đối với sự tồn tại,vận động và phát triển của sự vật. Đó là mâu thuẫn bên trong và bên ngoài cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu.
-       Quá trình vận động của mâu thuẫn: Trong mâu thuẫn các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau,vừa đấu tranh với nhau.
-         Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc không tách rời nhau,quy định lẫn nhau của các mặt đối lập,mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại.
Đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ phủ định nhau giữa các mặt đối lập. Hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật hiện tượng.Quá trình thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng
-         Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối,còn sự thống nhất giữa chúng là tương đối,có điều kiện tạm thời,trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh,đấu tranh trong tính thống nhất của chúng.
v Ý nghĩa phương pháp luận:
     -  Mâu thuẫn có tính khách quan,tính phổ biến và là nguồn gốc,động lực của sự vận động, phát triển, do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn,phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển.
     -  Mâu thuẫn có tính đa dạng phong phú do vậy trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể,tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp.
v Vận dụng bản thân:
-         Bất cứ quá trình sản xuất, kinh doanh nào cũng vậy, lợi nhuận và rủi ro luôn tồn tại song song với nhau, mâu thuẫn với nhau. Kết thúc một quá trình sản xuất, kinh doanh chúng ta có thể thu được lợi nhuận nhưng có khi là gặp phải rủi ro. Lợi nhuận dự kiến mang lại càng cao thì độ rủi ro nếu gặp phải cũng sẽ rất lớn và ngược lại. Nhưng mục đích của người kinh doanh bao giờ cũng là hướng tới lợi nhuận, và họ tìm mọi cách để hạn chế được rủi ro như, cải tiến kỹ thuật và phương pháp sản xuất., đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý nhanh nhạy và năng động, kịp thời nắm bắt và phân tích những biến động của thị trường, dự báo tình hình thị trường nhằm hạn chế tối đa rủi ro hoặc nếu có gặp rủi ro thì thiệt hại là rất nhỏ.    

4. Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

-      Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng. Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng.
Phép biện chứng duy vật ra đời đem lại quan điểm đúng đắn về khái niệm chất, lượng và quan hệ qua lại giữa chúng; từ đó khái quát thành quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại.
-      Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác; nhờ đó mà con người mới có thể phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác. Con người khác với động vật chính là nhờ những tính quy định vốn có của con người: có khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động, có khả năng tư duy.
-      Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối. Điều này phụ thuộc vào từng mối quan hệ cụ thể xác định. Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị lượng của sự vật và ngược lại. Điều này cũng có nghĩa là dù số lượng cụ thể quy định thuần tuý về lượng, song số lượng ấy cũng có tính quy định về chất của sự vật.
v NỘI DUNG:
a.   Khái niệm:
-      Chất của sự vật: Là tổng hợp những thuộc tính khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, nói lên nó là cái gì, để phân biệt nó với cái khác.
      + Thuộc tính của chất là một khía cạnh của chất được bộc lộ qua quan hệ với cái khác. Nhận thức chất sự vật là nhận thức tổng hợp các thuộc tính của nó, như vậy là phải nhận thức qua nhiều quan hệ.
      + Mỗi thuộc tính lại có nhiều thuộc tính nhỏ khác, nên được xem là một chất. Do đó, sự vật có nhiều chất. (Trong một quan hệ xác định, sự vật có một chất).
-      Lượng của sự vật: Là khái niệm biểu thị những con số của các yếu tố, các thuộc tính cấu thành nó: về độ lớn (to, nhỏ), về qui mô (lớn, bé), về trình độ (cao, thấp), về tốc độ (nhanh, chậm), về màu sắc (đậm, nhạt)…
      + Sự phân biệt giữa lượng và chất chỉ là tương đối, cùng một sự vật, trong mối quan hệ này nó là lượng, trong mối quan hệ khác nó là chất. .
    -   Mối quan biện biện chứng giữa lượng và chất
      + Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất.
. Sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của hai mặt đối lập lượng và chất, lượng nào chất ấy, chất nào lượng ấy. Không có chất, lượng nói chung tồn tại tách rời nhau. Chất ổn định tương đối, còn lượng thường xuyên biến đổi.
. Sự thống nhất giữa lượng và chất được thể hiện trong giới hạn nhất định gọi là “Độ". Vậy “Độ” là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa lượng và chất. Hay “Độ” là giới hạn mà ở đó có sự biến đổi về lượng nhưng chưa có sự thay đổi về chất. Sự vật còn là nó, chưa là cái khác.
. Chất biến đổi thì sự vật biến đổi, chất biến đổi gọi là “nhảy vọt”. Nhảy vọt là bước ngoặc của sự thay đổi về lượng đã đưa đến sự thay đổi về chất. Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời.
. Nhảy vọt xảy ra tại “điểm nút”. Điểm nút là tột đỉnh của giới hạn, ở đó diễn ra sự nhảy vọt.
-      Lượng biến thành chất phải có điều kiện:
+ Chất mới ra đời lại quy định sự vận động, biến đổi của lượng về quy mô, nhịp điệu của sự vận động phát triển.
      b.Những hình thức của bước nhảy
     - Căn cứ vào thời gian diễn ra sự thay đổi: có bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.
       + Bước nhảy dần dần: là bước nhảy từ từ, từng bước bằng cách tích lũy dần những nhân tố của chất mới.
Ví dụ: Chẳng hạn quá trình chuyển hoá từ vượn thành người  diễn ra rất lâu dài, hàng vạn năm. Quá trình cách mạng đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lâu dài qua nhiều bước nhảy dần dần.  
       + Bước nhảy toàn bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật.
       + Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của từng mặt, từng yếu tố riêng lẻ của sự vật.
Ví dụ: Sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang diễn ra từng bước nhảy cục bộ để thực hiện bước nhảy toàn bộ, tức là chúng ta đang thực hiện những bước nhảy cục bộ ở lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực xã hội và lĩnh vực tinh thần xã hội để đi đến bước nhảy toàn bộ - xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
       + Bước nhảy tự nhiên: tự phát, không cần hoạt động của con người.
Ví dụ: Tiến hoá là sự thay đổi về lượng với những biến đổi nhất định về chất  của sự vật trong tự nhiên.
       + Bước nhảy xã hội: được thực hiện thông qua hoạt động của con người.          
Ví dụ: Cách mạng xã hội là sự thay thay thế hình thái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác: chiếm hữu nô lê, phong kiến, tư bản...
     * Liên hệ đến quá trình hoạt động thực tiễn:
      - Có phương pháp học tập tích cực; học từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, học lý thuyết đi đôi với thực hành.
      - Tích cực học tập lý thuyết và thực hành để có một lượng kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp góp phần phục vụ bệnh nhân, góp phần xây dựng nghành, xây dựng đất nước.
      - Khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ trong học tập, công tác.
Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định thực hiện bước nhảy để chuyển về chất. Do đó trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật.
Trong hoạt động những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình thường của con người đó. Phương pháp này giúp cho chúng ta tránh được tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng,” đốt cháy giai đoạn”
Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta còn phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy. Sự vận dụng linh hoạt đó sẽ tuỳ thuộc vào việc phân tích đúng đắn những điều kiện khách quan và những nhân tố chủ quan cũng như sự hiểu biết sâu sắc về quy luật này. Tùy theo từng trường hợp cụ thể, từng điều kiện cụ thể hay quan hệ cụ thể chúng ta lựa chọn hình thức bước nhảy phù hợp để đạt tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình.
Sự thay đổi về chất của sự vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật. Do đó, trong hoạt động của mình cần phải biết cách tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sở hiểu rõ bản chất, quy luật, kết cấu của sự vật đó. Chẳng hạn trên cơ sở hiểu biết đúng đắn về Y học, chúng ta chăm sóc tốt sức khoẻ cho nhân dân. Trong một tập thể cơ chế quản lý, lãnh đạo và quan hệ giữa các thành viên trong tập thể ấy thay đổi có tính chất toàn bộ thì rất có thể làm cho tập thể đó vững mạnh…




5.                 Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
       Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những vấn đề quan trong của triết học. Nhận thức đúng đắn và sâu sắc nội dung mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa lớn lao đối với đời sống và sự phát triển của xã hội.
 - Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn:
  + Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận:
v Khái niệm thực tiễn: 
     - Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng thực tiễn là hoạt động nhận thức, hoạt động tinh thần. Các nhà tôn giáo cho hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của những lực lượng siêu nhiên là thực tiễn. Có nhà triết học duy vật trước Mác cho rằng: hoạt động thực nghiệm khoa học là thực tiễn. Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đầy đủ.
     - Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Từ quan niệm này của triết học duy vật biện chứng về thực tiễn, chúng ta thấy thực tiễn có ba đặc trưng sau:
      + Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính. Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng. Ví dụ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, đắp đê, cày ruộng,v.v…
      + Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội. Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định.
      + Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ. Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn.
v Có ba hình thức thực tiễn cơ bản: 
 + Một là, sản xuất vật chất. Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người.
 + Hai là, những hoạt động chính trị-xã hội. Chẳng hạn như đấu tranh giải phóng dân tộc, mít tinh, biểu tình ...
 + Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học. Đây là hình thức đặc biệt, bởi lẽ trong thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới.
 Ba hình thức thực tiễn này liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất.
v Khái niệm lý luận:
       Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ thống những tri thức, được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống, nguyên lý, quy luật, phạm trù.
-         Lý luận có những đặc trưng :
       + Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lô gic chặt chẽ.
       + Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn. Không có trí thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận.
       + Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất, hiện tượng.
-          Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
       + Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận. Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật, làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật. Trên cơ sở đó, con người có hiểu biết về chúng. Nghĩa là thực tiễn cung cấp « vật liệu » cho nhận thức. Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức. Chính việc đo đạt ruộng  đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hi Lạp - La Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago... ra đời.
       + Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời. Nói cách khác, thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức giải quyết. Trên cơ sở đó, nhận thức phát triển.
       + Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan cho con người. Chẳng hạn, thông qua các hoạt động sản xuất, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật... những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác... được rèn luyện. Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn.
        + Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc cho con người nhận thức hiệu quả hơn như kính thiên văn, máy vi tính... đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất. Nhờ những công cụ máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn. Trên cơ sở đó, thúc đẩy nhận thức phát triển.
        + Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận. Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại. Ngay từ tưở mông muội, để sống, con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, tức là để sống, con người phải nhận thức. Nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn.
        + Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người. Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức - kết quả của nhận thức.
        +  Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng.
        + Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận. Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý. Bởi lẽ chỉ có thông qua thực tiễn, con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng. Thông qua quá trình đó, côn người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm. Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối. Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm. Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển. Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp. Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây, hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn.

           Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:
       + Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn.
       + Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng.
       + Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo.

      - Ý nghĩa phương pháp luận:
            Phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điểm thực tiễn yêu cầu:
       + Một là, nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn của địa phương, của ngành và đất nước.
       + Hai là, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành.
       + Ba là, phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện phát triển lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách. Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận.
       Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn, coi thường, hạ thấp lý luận) và bệnh giáo điều (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường và hạ thấp kinh nghiệm thực tiễn; hoặc vận dụng kinh nghiệm của người khác, ngành khác, địa phương khác, nước khác không tính đến điều kiện thực tiễn cụ thể của mình).
       Trong công tác, mỗi cán bộ phải gương mẫu thực hiện phương châm « nói đi đôi với làm », tránh nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều làm ít; nói mà không làm...
       Cũng có lúc, không ít cán bộ, đảng viên quá đề cao thực tiễn, xem nhẹ lý luận, sa vào chủ nghĩa kinh nghiệm, tự mãn, thiếu sáng tạo, chậm bắt nhịp cuộc sống và xu thế vận hành, phát triển chung của thời đại, đẩy đất nước đến nguy cơ tụt hậu.
       Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước những vận động và biến đổi nhanh chóng của thế giới, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI trở đi, Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự chú trọng đến hiệu quả của hoạt động thực tiễn, đúc kết lý luận, gắn lý luận với thực tiễn, nắm bắt kịp thời xu thế của thời đại, xây dựng những đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa đất nước vượt qua thời kỳ khủng hoảng, tạo những bước tiến quan trọng, chủ động hội nhập với thế giới.

Họ tên: Nguyễn Thị Kim Anh
Lớp: H685 

BÀI 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CNDVLS

6.                 Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta?
v Nội dung quy luật:
-         Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
   + Trong một phương thức sản xuất, Lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất là hình thức biểu hiện của quá trình sản xuất. Nội dung quyết định hình thức.
   + Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành của quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất ở trình độ thế nào sẽ quy định một quan hệ sản xuất tương ứng, phù hợp với nó.
   + Lực lượng quyết định sự biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất có tính động, cách mạng. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một tình độ nhất định sẽ mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất, đỏi hỏi phá vỡ, quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu, hình thành quan hệ sản xuất mới, tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Trong lực lượng sản xuất, công cụ lao động luôn phát triển, con người luôn tạo ra công cụ lao động mới để nâng cao năng suất lao động, dẫn đến lực lượng sản xuất phát triển mâu thuẫn với quan hệ sản xuất, đến mức độ nào đó sẽ đòi hỏi quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn.
-         Quan hệ sản xuất sẽ tác động trở lại với lực lượng sản xuất.
   + Quan hệ sản xuất quy dịnh mục đích của sản xuát, hệ thống tổ chức, quản lý sản xuất, cơ cấu lợi ích, thường xuyên tác động trở lại  lực lượng sản xuất.
·        Quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triên
·        Ngược lại, sẽ kiềm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
v Ý nghĩa của quy luật
   Cung cấp cơ sở lý luận khoa học xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử  để giải thích nguồn gốc, động lực sự vận động, phát triển của xã hội, của phát triển sản xuất trong lịch sử.
   Cung cấp lý luận khoa học để Đảng ta hoạch định đường lối phát triển kinh tế.
   - Muốn thúc đẩy nền sản xuất vật chất của xã hội phải ưu tiên phát triển trình độ của lực lượng sản xuất, đồng thời phải xây  các quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Nói đến lực lượng sản xuất, là nói đến giáo dục đào tạo, phát triển khoa học kỳ thuật, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời quan hệ sản xuất cũng phải phát triển phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. Hiện nay lực lượng sản xuất có nhiều trình độ nên cần có nhiều quan hệ sản xuất.
   - Phải kịp thời chú ý phát hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong lịch sử có thời điểm phát hiện mâu thuẫn này chậm, dẫn đến chậm phát triển.
v Liên hệ vận dụng quy luật này với đảng ta trong 2 giai đoạn trước và sau đổi mớ
       - Giai đoạn trước đổi mới (1975-1985) Đảng ta đã mắc phải những sai lầm nhất định.(chứng minh) trong quá trình nhận thức và vận dụng quy luật này. Những sai lầm:
      + Xây dựng quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển (quan hệ sản xuất XHCN). Sở hữu tư liệu sản xuất chỉ có công hữu, không công nhận tư hữu. Nhà nước tổ chức quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, có nghĩa là bằng mệnh lệnh hành chính nhà nước, bất chấp quy luật kinh tế, vì vậy đã tước đi, không tạo điều kiện cho người lao động chủ động trong sản xuất. Khâu phân phối sản phẩm theo hình thức bình quân, cào bằng. (Lấy số liệu nghị quyết 6, nghị quyết 5)
     + Trong quá trình cải tạo quan hệ sản xuất Đảng ta chỉ tập tung cải tạo mặt sở hựu tư liệu sản xuất, chưa chú ý đến cách thức quản lý và phân phối phù hợp. Xuất phát từ chủ nghĩa Mác Lê, tư hữu tư liêu sản xuất là cơ sở mất bình đẳng, ngay cả về giá trị thặng dư. Nhưng 2 mặt còn lại cũng nằm trong mối quan hệ hữu cơ và biện chứng.
      - Giai đoạn sau đổi mới (Từ Đại hội VI đến nay), Đảng ta chủ trương tiến hành đồng bộ việc ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp.
     + Do trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp, phát triển chưa đồng bộ, đòi hỏi phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận nhiều hình thức sở hữu (các thành phần kinh tế qua các kỳ đại hội) 4 thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế liên kết nước ngoài.  Trong 4 thành phần này còn nhiều hình thức nhỏ hơn. Có 3 hình thức sở hữu chủ yếu: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước.
     + Nhà nước tổ chức điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
     + Thực hiện phân phối theo kết quả lao động là chủ yếu.

7. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định.
- Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ các quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo...,các thể chế xã hội tương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội… được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
v Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
      - CSHT quyết định KTTT (CSHT nào thì KTTT nấy):
      + Trật tự kinh tế xét đến cùng quy định trật tự chính trị, mâu thuẫn trong kinh tế gây ra mâu thuẫn trong chính trị. Giai cấp nào thống trị trong kinh tế thì giai cấp đó thống trị trong chính trị.
      + Tất cả các yếu tố của KTTT dều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào CSHT và do CSHT quy định.
      + Cơ sở hạ tầng thay đổi hay mất đi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũng phải thay đổi hay mất đi để cho một kiến trúc thượng tầng mới ra đời, tuy nhiên đây là một quá trình phức tạp.
     -  Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại đến cơ sở hạ tầng:
         Do kiến trúc thượng tầng và mỗi yếu tố của nó có tính độc lập tương đối và vai trò khác nhau nên chúng tác động đến cơ sở hạ tầng theo những cách những xu hướng khác nhau.
       + Chức năng chính của kiến trúc thượng tầng là xây dựng, củng cố, bảo vệ cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hay phá hoại chế độ kinh tế hiện hành.
       + Kiến trúc thượng tầng tác động mạnh mẽ đến kinh tế - xã hội, nhưng nó không thể làm thay đổi xu hướng phát triển khách quan của đời sống kinh tế - xã hội. Sự tác động của nó chủ yếu diễn ra theo 2 hướng:
·           Nếu phù hợp với CSHT, với các quy luật kinh tế thì KTTT thúc đẩy sự tăng trưởng, đảm bảo sự phát triển bền vững cho CSHT.
·           Nếu không phù hợp với CSHT, với các quy luật kinh tế thì KTTT kìm hãm sự tăng trưởng, gây bát ổn cho đời sống xã hội
v Ý nghĩa phương pháp luận
- Cơ sở lý luận khoa học để xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử trong việ xem xét mối quan hệ lịch sử.
- Là cơ sở lý luận  khoa học để Đảng ta xây dựng đường lối kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được thể hiện xuyên suốt trong các kỳ đại hội. “Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị, vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Đại hội XI)
- Là cơ sở khoa học để chúng ta nhận thức, vận dụng đúng đường lối đổi mới kinh tế chính trị nước ta.
   + Khẳng định việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là cấp bách và có ý nghĩa quyết định.
   + Việc đổi mới toàn bộ hệ thống KTTT XHCN ở nước ta là rất quan trọng (Nghị quyết TW 8)- Xây dựng Đảng – Nhà nước pháp quyến.
v Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam
        Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam: cơ sở hạ tầng ở Việt Nam gồm nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kiến trúc thượng tầng có chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản, nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội…
       Đảng ta đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này trong quá trình xây dựng CHXH ở nước ta hiện nay.
Nước ta đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau: từ xã hội cộng sản nguyên thủy tiến lên xã hội chiếm hữu nô lệ, đến xã hội phong kiến rồi tiến hóa lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và đỉnh cao nhất trong quá trình tiến hóa này là chủ nghĩa cộng sản. Nước ta đang trong giai đoạn xây dựng CNXH theo hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do đó mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT là 1 quá trình đấu tranh lâu dài giữa cái mới và cái cũ. CNXH đang trong quá trình xây dựng nên là cái mới còn rất non yếu, muốn xóa bỏ hết tàng dư của xã hội cũ - đại diện cho cái cũ rất khó bởi nó đã tồn tại lâu dài. Tuy nhiên con đường đi lên CNXH ở nước ta diễn ra theo các quy luật khách quan của thời đại chứ không phải do ý muốn chủ quan của con người quyết định nên nó là cái mới nhưng hợp quy luật nên ngày càng phát triển và ngược lại cái cũ không hợp quy luật sẽ ngày càng yếu đi.
        Đảng ta đã ra sức xây dựng CNXH trong đó phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Quá trình xây dựng này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo...,các thể chế xã hội tương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội cho phù hợp với sự phát triển của phương thức sản xuất mà Đảng đã đề ra để góp phần xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
8. Đấu tranh giai cấp là gì? Nguyên nhân của đấu tranh giai cấp? Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triến của xã hội có giai cấp ? Liên hệ cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay ?  
       1.Giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp
       a. Khái niệm giai cấp, tầng lớp xã hội
       Khái niệm giai cấp dùng để chỉ “những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng”.
Từ khái niệm trên cho thấy:
- Giai cấp là kết quả của sự phân hóa xã hội do có sự đối lập giữa họ về địa vị trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định.
- Trong xã hội, giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì đồng thời có khả năng chiếm được địa vị làm chủ quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước và trở thành giai cấp thống trị xã hội.
- Giai cấp không chỉ là khái niệm của khoa học chính trị mà còn là khái niệm phản ánh mối quan hệ khách quan giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị của xã hội; phản ánh mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa các tập đoàn người trong một điều kiện lịch sử nhất định. Đó là mối quan hệ không chỉ có sự khác biệt mà còn có tính chất đối lập của họ trên phương diện kinh tế và chính trị. Từ đó cho thấy, việc phân tích các vấn đề về kết cấu chính trị cần phải gắn liền với việc phân tích kết cấu kinh tế của xã hội theo quan điểm lịch sử cụ thể.
       Cần phân biệt khái niệm giai cấp với khái niệm tầng lớp xã hội. Khái niệm tầng lớp xã hội dùng để chỉ sự phân tầng, phân lớp, phân nhóm giữa những con người trong cùng một giai cấp theo địa vị và sự khác biệt cụ thể của họ trong giai cấp đó hoặc chỉ những nhóm người ngoài kết cấu giai cấp trong một xã hội nhất định (công chức, trí thức, tiểu nông).
       b. Nguồn gốc giai cấp
        Phát hiện mới của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là sự tồn tại giai cấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp mà là đã chỉ ra sự tồn tại giai cấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp không phải là bản tính của nhân loại, là tiền định mà chỉ là hiện tượng có tính lịch sử, gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sản xuất, của lịch sử nhân loại.
       Nguồn gốc trực tiếp của giai cấp trong xã hội là từ sự phân hóa xã hội do sự ra đời, tồn tại của chế độ tư hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Trong điều kiện đó tất yếu làm phát sinh và tồn tại sự phân biệt địa vị của các tập đoàn người trong quá trình sản xuất, dẫn tới khả năng tập đoàn người này chiếm đoạt lao động thặng dư của tập đoàn người khác. Tuy nhiên, quá trình này còn phải gắn với điều kiện lực lượng sản xuất phải phát triển đến một mức độ nhất định, làm cho năng suất lao động tăng lên khiến cho thời gian lao động được chia thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư mà biểu hiện của nó là sự dư thừa tương đối của cải trong cộng đồng xã hội. Nguồn gốc sâu xa của sự phân hóa giai cấp trong xã hội là do tình trạng phát triển chưa đầy đủ của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển tới mức đầy đủ thì chính nó lại là nguyên nhân khách quan dẫn đến xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do đó xóa bỏ giai cấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp trong xã hội.
       Con đường hình thành giai cấp có thể diễn ra với những hình thức khác nhau, mức độ khác nhau ở các cộng đồng khác nhau trong lịch sử.
       Điều đó tùy thuộc sự tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan đến tiến trình vận động, phát triển của mỗi cộng đồng người. Tuy nhiên, có thể khái quát quá trình hình thành, phát triển giai cấp diễn ra chủ yếu với sự tác động của nhân tố bạo lực và của quy luật kinh tế phân hóa những người sản xuất hàng hóa trong nội bộ cộng đồng xã hội, hoặc là sự kết hợp của cả hai yếu tố nói trên.
       c. Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự vận động, phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp
      -   Đấu tranh giai cấp và các hình thức đấu tranh giai cấp:
+ Đấu tranh giai cấp là khái niệm dùng để chỉ “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1977, t.7, tr.237 - 238. )
 + Tùy theo điều kiện lịch sử khác nhau, các cuộc đấu tranh giai cấp có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với những phạm vi và trình độkhác nhau như: đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị... Trong thực tế lịch sử đấu tranh giai cấp còn có thể mang hình thức đấu tranh dân tộc, tôn giáo, văn hóa...
-         Nhà nước – công cụ chuyên chính giai cấp:
+ Sự ra đời và tồn tại của nhà nước là kết quả tất yếu của đấu tranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp. Để khống chế và đàn áp những người nô lệ, những ngườI làm thuê, duy trì và thực hiện sự bóc lột, các giai cấp thống trị trong lịch sử (chủ nô, địa chủ, tư sản) tất yếu phải sử dụng đến sức mạnh bạo lực có tổ chức – đó là nhà nước với những đội vũ trang đặc biệt và hệ thống pháp luật nhằm duy trì trật tự của sự thống trị giai cấp. Vì vậy, vấn đề chính quyền nhà nước là vấn đề trung tâm và cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội.
+ Sự ra đời và tồn tại của nhà nước không phải để giải quyết mâu thuẫn giai cấp mà là để duy trì trật tự xã hội trong điều kiện mâu thuẫn không giải quyết được.
       Nhà nước là công cụ bạo lực để trấn áp giai cấp, duy trì địa vị của giai cấp thống trị, do đó nó là công cụ chuyên chính giai cấp của giai cấp bóc lột trong lịch sử đối với nô lệ hay lao động làm thuê. Trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều kiểu nhà nước khác nhau: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản nhưng bản chất giai cấp của nó đều là công cụ chuyên chính giai cấp của các giai cấp bóc lột. Trái lại, với sự xuất hiện của nhà nước chuyên chính vô sản, đó là nhà nước kiểu mới, nhà nước “nửa nhà nước” tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trở thành công cụ bạo lực có tổ chức và công cụ quản lý kinh tế xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
-         Vai trò của đấu tranh giai cấp:
        Đấu tranh giai cấp giữ vai trò là phương thức, động lực cơ bản của sự tiến bộ, phát triển xã hội trong điều kiện xã hội có sự phân hóa thành đối kháng giai cấp.
        Lịch sử nhân loại từ khi có sự phân hóa đến nay về thực chất chỉ là lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng với những mức độ khác nhau và mang sắc thái khác nhau. Kết quả cuối cùng của những cuộc đấu tranh đó đều dẫn tới sự ra đời của phương thức sản xuất mới thông qua đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội. Đấu tranh giai cấp không chỉ là động lực cơ bản của sự phát triển lịch sử mà còn là phương thức cơ bản của sự tiến bộ và phát triển xã hội, nhằm giải quyết những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Trong điều kiện xã hội có sự phân hóa giai cấp thì sự vận động của các mâu thuẫn trong phương thức sản xuất biểu hiện ra là mâu thuẫn giữa các giai cấp trong đời sống chính trị xã hội, do đó mâu thuẫn đối kháng trong đời sống kinh tế chỉ có thể được giải quyết thông qua việc giải quyết mâu thuẫn đối kháng giai cấp trên lĩnh vực chính trị xã hội.
v Ý nghĩa phương pháp luận:
           Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận. Nó cho phép thấy được tính tất yếu của đấu tranh giai cấp trong xã hội, nhận thức được bản chất và các hình thức biểu hiện của đấu tranh giai cấp; tạo cơ sở lý luận để xây dựng đường lối chiến lược đấu tranh giai cấp chống lại ách áp bức bóc lột, bất bình đẳng giai cấp, xây dựng chế độ xã hội mới đồng thời là cơ sở để giải quyết mâu thuẫn giai cấp của xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
        2. Cách mạng xã hội và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp
         a. Khái niệm cách mạng xã hội và nguồn gốc của cách mạng xã hội
v  Khái niệm cách mạng xã hội và khái niệm cải cách xã hội
       - Cách mạng xã hội là khái niệm dùng để chỉ bước chuyển biến lớn của lịch sử xã hội loài người - đó là bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội ở trình độ thấp lên một hình thái kinh tế - xã hội ở trình độ cao hơn, được tiến hành trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa...của xã hội.
       -  Khái niệm cách mạng xã hội khác với khái niệm cải cách. Cải cách là khái niệm dùng để chỉ những cuộc cải biến diễn ra trên một hay một số lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi một hình thái kinh tế - xã hội, nhằm hoàn thiện hình thái kinh tế - xã hội đó.
       -  Cách mạng xã hội cũng khác với khái niệm đảo chính. Đảo chính là khái niệm dùng để chỉ những sự biến tranh giành địa vị quyền lực nhà nước giữa các lực lượng chính trị (thường trong cùng một giai cấp) và với chủ trương không thay đổi bản chất chế độ hiện thời.
v Nguồn gốc của cách mạng xã hội:
-       Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xã hội là từ mâu thuẫn gay gắt trong bản thân nền sản xuất vật chất của xã hội, tức là mâu thuẫn giữa nhu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất với sự kìm hãm của quan hệ sản xuất đã trở nên lỗi thời mà không một cuộc cải cách kinh tế hay chính trị nào giải quyết được. Biểu hiện về mặt chính trị xã hội của mâu thuẫn đó là đấu tranh giai cấp, đẫn đến bùng nổ các cuộc cách mạng xã hội
-  Nguyên nhân chủ quan là sự phát triển nhận thức và tổ chức của giai cấp cách mạng, tức giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn, từ đó tạo ra phong trào đấu tranh giai cấp từ tự phát đến tự giác và khi có sự kết hợp chín muồi của các nhân tố khách quan và chủ quan, tức tạo được thời cơ cách mạng thì khi đó tất yếu cách mạng sẽ bùng nổ.
        b. Vai trò của cách mạng xã hội đối với sự vận động, phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp.
- Cách mạng xã hội là phương thức của sự vận động, phát triển xã hội có đối kháng giai cấp. Thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội mà xã hội có giai cấp đối kháng không ngừng vận động theo chiều hướng đi lên.
- Cách mạng xã hội là động lực của sự vận động, phát triển xã hội nhằm thay đổi chế độ xã hội đã lỗi thời chuyển lên chế độ xã hội mới cao hơn.
- Không có những cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử thì không thể thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. Theo C.Mác, cách mạng xã hội là đầu tàu của lịch sử. Chính nhờ cách mạng xã hội mà mâu thuẫn cơ bản của đời sống xã hội được giải quyết triệt để, tạo động lực cho sự tiến bộ và phát triển của xã hội.
- Nhận thức về vai trò của cách mạng xã hội đối với sự phát triển của xã hội là cơ sở để nhận thức tính khách quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa đồng thời thấy rõ vai trò to lớn của cách mạng vô sản trong việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
9. Phân tích vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này?  

a.       Quần chúng nhân dân là bộ phân có cùng chung lợi ích căn bản bao gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, một tổ chức hay một đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định.
Quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động, biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội.
     b. Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân và vai trò của cá nhân trong lịch sử
       Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử
       - Quần chúng nhân dân là người sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Hoạt động sản xuất vật chất của họ là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
       - Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần cho xã hội.
       - Quần chúng nhân dân là chủ thể và là động lực của các phong trào xã hội.
       - Lợi ích của quần chúng là điểm khởi đầu và cũng là mục đích cao nhất của mọi phong trào cách mạng.
       * Vai trò của cá nhân, vĩ nhân đối với sự phát triển của lịch sử
         - Lãnh tụ là cá nhân kiệt xuất xuất hiện trong phong trào quần chúng nhân dân, được quần chúng suy tôn làm người lãnh đạo phong trào quần chúng.
         - Lãnh tụ là người có tri thức uyên bác, có tầm nhìn xa trông rộng, nắm được xu thế phát triển khách quan của lịch sử, đề ra được đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn cho phong trào quần chúng.
         - Lãnh tụ là người có năng lực tập hợp, thống nhất, tổ chức, lãnh đạo quần chúng, thống nhất hoạt động của quần chúng nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề ra.
          - Lãnh tụ là người có ý chí, quyết tâm cao, có đạo đức tiêu biểu, là hạt nhât đoàn kết và tượng trưng cho ý chí và sức mạnh của phong trào quần chúng.
            * Cá nhân và mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội
          - Cá nhân là gì? Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định và được phân biệt với các cá thể khác thông qua tính đơn nhất và tính phổ biến của nó.
             *Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
          - Cá nhân và xã hội có mối quan hệ khắng khít tác động lẫn nhau. Quan hệ về lợi ích (trước hết là lợi ích kinh tế) là nền tảng của quan hệ cá nhân và xã hội.
             * Xã hội giữ vai trò quyết định đối với cá nhân, bởi vì:
          - Sự hình thành nhân cách của cá nhân chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện xã hội nhất định và phụ thuộc vào những điều kiện đó.
          - Nhu cầu và lợi ích cá nhân chỉ hình thành và được thực hiện trong những điều kiện xã hội nhất định.
              * Sự phát triển của cá nhân có tác động trở lại sự phát triển của xã hội:
          - Cá nhân tích cực có vai trò thúc đẩy sự phát triển xã hội. nhất là những cá nhân kiệt xuất (vĩ nhân) có vai trò rất to lớn trong sự phát triển xã hội. Nhân cách và hoạt động của họ để lại dấu ấn rất sâu sắc trong lịch sử. Đó là những lãnh tụ cách mạng, những tướng tài, những nhà triết học, khoa học, những tài năng nghệ thuật.
          - Cá nhân tiêu cực có tác dụng kìm hãm sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, tác dụng kìm hảm của họ chỉ có tính chất tạm thời, vì xã hội phát triển theo quy luật khách quan không phụ thục ý chí cá nhân nào.
          - Trong các xã hội có giai cấp bóc lột, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có mâu thuẫn gay gắt. Chủ nghĩa cá nhân, nhất là chủ nghĩa cá nhân cực đoan là một trở ngại lớn cho sự phát triển xã hội. Chúng ta đang phấn đấu xây dựng một xã hội, trong đó lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội được kết hợp hài hòa, tác động, thúc đẩy lẫn nhau cùg phát triển.
         * Ý nghĩa phương pháp luận.

           - Hiểu được vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, tư đó xây dựng quan điểm quần chúng: tôn trọng và tin tưởng vào sức mạnh và khả năng to lớn của quần chúng, dựa vào quần chúng, phát huy nguồn sức mạnh tiềm tàng của quần chúng. Hiểu được quan điểm của Hồ Chủ tịch và Đảng ta: coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, người cán bộ là đầy tờ trung thành của nhân dân.

            - Hiểu được vai trò to lớn của lãnh tụ, lựa chọn lãnh tụ có đủ tài đức để lãnh đạo phong trào. Tôn kính lãnh tụ, nhưng không được sùng bái cá nhân lãnh tụ. Tôn kính lãnh tụ là tình cảm đạo đức đúng đắn, xuất phát từ chỗ hiểu biết tài năng, phẩm chất và cống hiến của lãnh tụ. Trái lại, sùng bái cá nhân lãnh tụ xuất phát từ sự ngu dốt và mê tín, coi lãnh tụ là thần thánh, làm cho lãnh tụ xa rời quần chúng, phạm sai lầm sai lầm không khắc phục được.
10.            Ý thức xã hội là gì? Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội ? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này ?
       a.Ý thức xã hội:
v Khái niệm ý thức xã hội
-         ý thức xã hội là thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tư tưởng cùng những tình cảm tâm trạng, nẩy sinh từ tồn tại xã hội và phản ảnh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất định.
v Phân tích:
-          Ý thức xã hội là thuộc Lĩnh vực đời sống tinh thần: Đời sống con người chia làm 2 loại, đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
-         Đời sống tinh thần Bao gồm ý thức xã hội và hoạt động của con người trong lĩnh vực tinh thần. Vì thế ý thức xã hội chỉ là một bộ phận của đời sống tinh thần
-         Ý thức xã hội bao gồm những quan điểm tư tưởng, tình cảm, tâm trạng phản ánh tồn tại xã hội nhất định - theo từng giai đoạn.
    Nội dung cơ bản như sau: 
      1. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội. 
       Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử không xem ý thức xã hội như một yếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh tác dụng tích cực của ý thức xã hội đối với đời sống kinh tế - xã hội, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ý thức xã hội trong mối quan hệ với tồn tại xã hội. Tính độc lập tương đối biểu hiện ở những điểm sau đây: 
      a. Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội 
      -  Lịch sử xã hội cho thấy, nhiều khi tồn tại xã hội cũ đã mất đi, nhưng ý thức xã hội cũ tương ứng vẫn còn tồn tại dai dẳng; điều đó biểu hiện ý thức xã hội muốn thoát ly khỏi sự ràng buộc của tồn tại xã hội, biểu hiện tính độc lập tương đối. Sở dĩ có biểu hiện đó là do những nguyên nhân sau: 

     + Một là, sự biến đổi của tồn tại xã hội thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội không phản ánh kịp sự thay đổi đó và trở nên lạc hậu. Hơn nữa, ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội nên nói chung chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội. 
     + Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội. 
     + Ba là, trong xã hội có giai cấp, các giai cấp và lực lượng phản tiến bộ thường lưu giữ một số tư tưởng có lợi cho họ nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ. 
    -   Như vậy ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Cho nên trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại âm mưu và hành động phá hoại những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ. 
      b. Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội 
      - Khi khẳng định tính lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, triết học Mác - Lênin đồng thời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định tư tưởng của con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người. Sở dĩ có thể vượt trước được là do đặc điểm của tư tưởng khoa học quy định. Tư tưởng khoa học thường khái quát tồn tại xã hội đã có và hiện có để rút ra những quy luật phát triển chung của xã hội, quy luật đó không những phản ánh đúng quá khứ, hiện tại mà còn dự báo đúng tồn tại xã hội mai sau. 

      -  Chẳng hạn, ngay từ khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đang ở trong thời kỳ phát triển tự do cạnh tranh, Các Mác đã dự báo quan hệ sản xuất đó nhất định sẽ bị quan hệ sản xuất tiến bộ hơn thay thế. 
      - Khi nói, tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại xã hội thì không có nghĩa ý thức xã hội không còn bị tồn tại xã hội quyết định. Mà là, cho đến cùng nó luôn bị tồn tại xã hội quy định. 
       c. Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển 
       - Lịch sử phát triển của đời sống tinh thần xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước. Thí dụ, chủ nghĩa Mác đã kế thừa những tinh hoa tư tưởng của loài người mà trực tiếp là nền triết học Đức, kinh tế học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. 
       - Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước, Các giai cấp tiên tiến thường kế thừa những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại.
Thí dụ, khi làm cuộc cách mạng tư sản chống phong kiến, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã khôi phục những tư tưởng duy vật và nhân bản của thời đại cổ đại. Ngược lại, những giai cấp lỗi thời thì tiếp thu, khôi phục những tư tưởng, lý thuyết phản tiến bộ của thời kỳ lịch sử trước.
Thí dụ, vào nửa sau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các thế lực tư sản phản động đã khôi phục và phát triển những trào lưu triết học duy tâm, tôn giáo dưới những cái tên mới như chủ nghĩa Cantơ mới, chủ nghĩa Tômát mới, để chống lại phong trào cách mạng của giai cấp công nhân. 
      - Vì vậy, khi tiến hành cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ thì không những phải vạch ra tính chất phản khoa học của những trào lưu tư tưởng phản động trong điều kiện tại, mà còn phải chỉ ra những nguồn gốc lý luận của chúng trong lịch sử. 
      - Do ý thức xã hội có tính kế thừa, nên khi nghiên cứu một tư tưởng nào đó phải dựa và quan hệ kinh tế hiện và phải chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. Có như vậy mới hiểu rõ vì sao một nước có trình độ phát triển tương đối kém về kinh tế nhưng tư tưởng lại ở trình độ cao. Thí dụ, nước Đức ở đầu thế kỷ XIX lạc hậu về kinh tế, nhưng đã đứng ở trình độ cao hơn về triết học. 
      - Nắm vững quan điểm kế thừa của ý thức xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng. Đảng ta đã khẳng định, trong điều kiện mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa các dân tộc khác trên thế giới, làm giàu đẹp hơn nền văn hoá Việt Nam . 
        d. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng 
        Ý thức xã hội bao gồm nhiều bộ phận, nhiều hình thái khác nhau, theo nguyên lý mối liên hệ thì giữa các bộ phận không tách rời nhau, mà thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau. Sự tác động đó làm cho ở mỗi hình thái ý thức có những mặt, những tính chất không phải là kết quả phản ánh một cách trực tiếp của tồn tại xã hội. 
        Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu sẽ tác động mạnh đến các hình thái khác. Chẳng hạn ở thời cổ đại Tây Âu thì triết học và nghệ thuật đóng vai trò đặc biệt. Thời Trung Cổ ở Tây Âu thì tôn giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đến triết học, nghệ thuật, pháp quyền... Ngày nay thì hệ tư tưởng chính trị và khoa học đang tác động đến các lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội. 
       e. Ý thức xã hội tác động trở tồn tại xã hội 
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường khi phủ nhận tác động tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Ph.Ăng ghen viết: “Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật v.v đều dựa vào sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế”. 
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể; vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh; vào vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng và vào mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng. Chẳng hạn hệ tư tưởng tư sản đã tác động mạnh mẽ đến xã hội các nước Tây Âu thế kỷ XVII, XVIII. Hệ tư tưởng vô sản trở thành vũ khí về mặt tư tưởng của giai cấp vô sản đấu tranh để xoá bỏ xã hội tư bản. 



Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

Câu hỏi thảo luận (phần triết học)

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TỔ BỘ MÔN TRIẾT HỌC

CÂU HỎI THẢO LUẬN
Môn:  NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
(PHẦN TRIẾT HỌC)

BÀI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CNDVBC

1.     Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
2.     Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
3.     Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
4.     Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

5.     Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?

BÀI 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CNDVLS

6.     Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta?
7.     Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
8.     Đấu tranh giai cấp là gì? Nguyên nhân của đấu tranh giai cấp? Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triến của xã hội có giai cấp ? Liên hệ cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay ?  
9.     Phân tích vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này?
10.                         Ý thức xã hội là gì? Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội ? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này ?   

LƯU Ý:
-         Chuẩn bị đề cương thảo luận là 01 điều kiện bắt buộc.
-         Việc ký kiểm tra đề cương chỉ được tiến hành trước hoặc trong ngày thảo luận. Không giải quyết ký bổ sung sau ngày thảo luận theo lịch học.

-         Học viên  được giữ lại đề cương sau khi GV kiểm tra. 

Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

Tài liệu thảo luận tham khảo câu 3

HỌC VIỆN CÁN BỘ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG và
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TÊN : DƯƠNG XUÂN HUY
LỚP : H689
Vấn đề 3: Nêu một số điểm nổi bật về đường lối đổi mới đất nước của Đảng ta thời kỳ từ năm 1986 đến nay? (Văn kiện Đại hội VI đến Đại hội XII)
BÀI LÀM
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 có ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vươn cao ngọn cờ cách mạng giải phóng dân tộc, đưa đất nước đến độc lập tự do vào ngày 30/4/1975. Trong đó không thể không nhắc đến đường lối cách mạng XHCN mà Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo nhân dân ta thực hiện, từ đó đưa đất nước ta vào thời đại mới, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân ta. Dưới đây là một số điểm nổi bật về đường lối đổi mới đất nước của Đảng ta thời kỳ từ năm 1986 đến nay.
- Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH với những thuận lợi cơ bản cũng như không ít khó khăn, thách thức:
- Nước ta đi lên CNXH với điểm xuất phát rất thấp, hậu quả của 30 năm chiến tranh hết sức nặng nề, lại phải tiến hành chiến tranh bảo vệ tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Trên thế giới các nước XHCN lâm vào tình trang khó khăn, trì trệ, tình hình đó đặt ra cho Đảng và nhân dân ta phải tìm cách đi phù hợp với hoàn cảnh nước ta.
- Tại ĐH IV của đảng (12/1976) Đảng đã đề ra đường lối chung và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN, đề ra những chỉ tiêu cụ thể cho kế hoạch 5 năm (1976-1980). Tuy nhiên, những kết quả mang lại còn thấp so với yêu cầu và chưa tương xứng với công sức bỏ ra, hầu như các chỉ tiêu của kế họach 5 năm đều không thực hiện được. Nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, trước thực tế đó, đòi hỏi toàn đảng, toàn dân ta phải tìm ra con đường đổi mới đất nước.
- Tháng 8/1979, Hội nghị  khoá TW 6 khoá IV họp bàn những vấn đề cấp bách về kinh tế xã hội và vấn đề tiêu dùng, Hội nghị khẳng định sự cần thiết phải tồn tại thị trường tự do, khuyến khích sản xuất, khắc phục những khuyết điểm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo XHCN, đề ra chủ trương phù hợp để phát triển lực lượng sản xuất, Hội nghị TW6 đánh dấu bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi đường lối đổi mới của Đảng.
- Thực hiện chủ trương của Hội nghị TW6, Chính phủ đã có những quyết định kịp thời về việc bãi bỏ các trạm kiểm soát có tính chất ngăn sông cấm chợ, cản trở lưu thông hàng hoá, khuyến khích tận dụng ruộng đất nông nghiệp vào sản xuất; mở rộng kinh doanh thương nghiệp XHCN, chính sách phân phối theo lao động, kích thích sản xuất phát triển.
- Ngày 13/1/1981, Ban bí thư TW Đảng ra chỉ thị 100/CT-TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã. Chỉ thị 100 đã tạo ra động lực mới trong sản xuất nông nghiệp.
- Trong công nghiệp, Chính phủ ban hành quyết định 25/CP và 26/CP ngày 21/1/1981 về chủ trương, biện pháp cải tiến cơ chế quản lý trong kinh tế quốc doanh, điểm mới trong quản lý công nghiệp là làm giảm tình trạng trì trệ trong sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước. Năm 1981 lần đầu tiên sau chiến tranh, sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5%.
-Tại ĐH V của đảng họp tại Hà Nội từ ngày 27-31/3/1982, chủ trương tiếp tục tìm tòi cơ chế quản lý mới cho thích hợp, xoá bỏ cơ chế cũ, điều chỉnh lại cơ cấu, quy mô, tốc độ và các bước đi của công nghiệp hóa. Đại hội đã phân chia thời kỳ quá độ thành nhiều chặng và xác định chúng ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Nhiệm vụ chặng đường đầu tiên tạo tiền đề cơ sở vật chất chuyển sang Công nghiệp hoá.
- Việc thực hiện nghị quyết Đại hội V, tình hình kinh tế XH có những chuyển biến nhất định. Tuy nhiên trên lĩnh vực lưu thông phân phối còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước cải cách giá lương-tiền lần thứ 1 năm 1981 và năm 1982 nhưng đã làm cho lạm phát trầm trọng thêm, trước tình hình đó tháng 6/1985, Hội nghị TW8 họp chuyên bàn về giá-lương-tiền, quyết định phải dứt khoát xoá bỏ tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện chế độ tập trung dân chủ, hoạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN. Hội nghị TW8 cho thấy Đảng đã có sự đổi mới tư duy trên lĩnh vực phân phối lưu thông một cách cơ bản, đã thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật của sản xuất hàng hoá. Hội nghị TW8 đánh dấu bước đột phá thứ 2 trong quá trình đổi mới tư duy của Đảng.
- Ngày 10/7/1986, Tổng bí thư Lê Duẫn qua đời. Tại phiên họp đặc biệt của TW Đảng ngày 14/7/1986, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng bí thư, ngày 20/9/1986, Bộ Chính trị đã có những kết luận về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế.
+ Về cơ cấu kinh tế: cần bố trí đúng cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu sản xuất và đầu tư; đặc trưng cần nắm vững là nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần.
+ Về cơ chế quản lý: xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác quản lý và sử dụng quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thị trường trong cơ chế kế hoạch hoá. Trong điều chỉnh lớn phương án bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư phải thực sự lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu.
Những kết luận này là bước đột phá thứ 3 trong quá trình tìm đường đổi mới.
- Tại ĐH VI (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước một cách triệt để, sâu sắc, mang ý nghĩa như một cuộc cách mạng. Trong đổi mới toàn diện, Đảng bắt đầu tự đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Viêt Nam. Trên nền tảng các nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin và nhất là kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam. Trong đổi mới tư duy, Đại hội VI chọn khâu đột phá là đổi mới tư duy kinh tế:
+ Thừa nhận kinh tế nhiều thành phần.
+ Chuyển nền kinh tế từ tập trung bao cấp, kế hoạch hoá cao độ sang hoạch toán kinh doanh XHCN.
+ Mở của nền kinh tế Việt Nam với khu vực và trên thế giới.
+ Tập trung vào 3 chương trình kinh tế lớn: sản xuất lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Đổi mới toàn diện triệt để sâu sắc nhưng có nguyên tắc, lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm hàng đầu trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị. Để giữ vững ổn định chính trị phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Kiên trì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; Đổi mới trên quan điểm lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, giữ vũng vai trò lãnh đạo của đảng ta, bản chất Nhà nước cách mạng của ta, kết hợp sức mạnh của dân tộc và của thời đại trong điều kiện mới.
- Tại ĐH VII (6/1991) của Đảng tiếp tục bổ sung đường lối đổi mới của Đảng ta.
+ Đề ra và thông qua Cương lĩnh thứ 4 của Đảng ta: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên XHCN. Trong cương lĩnh này lần đầu tiên trong lịch sử của đảng ta đã đưa ra mô hình và con đường đi lên CNXH riêng cho Việt Nam với 6 đặc trưng cơ bản và 7 phương hướng cơ bản. Cương lĩnh năm 1991 đã tạo ra cơ sở lý luận và nền tảng lý luận cho đổi mới.
+ Tại ĐH VI lần đầu tiên của đảng ta đưa ra khái niệm tư tưởng HCM.
+ Lần đầu tiên đảng ta xây dựng chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội từ năn 1991 – 2000 với mục tiêu: Đưa Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội. Đây là chặn đường đầu tiên của thời kỳ quá độ của đảng ta.
+ ĐH đánh dấu sự coi trọng của đảng với công tác xây dựng đảng, chỉnh đốn đảng.
+ Tại ĐH VI đã cũng cố niềm tin, khơi dậy các nguồn lực trong đảng, trong nhân dân. Kiên trì CNXH khi Đông Âu đã tan rã và Liên Xô sắp sụp đỗ.
- Tại ĐH VIII (28/6 đến 1/7/1996) của đảng đã tổng kết 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới và thực hiện nghị quyết của ĐH VII , quyết định mục tiêu, phương hướng, giải pháp thực hiện CNH-HĐH đất nước đến năm 2010 và 2020, bổ sung sửa đổi điều lệ đảng.
- Nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tuy còn một số chưa vững chắc, thế và lực được tăng cường cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Đại hội đã đưa ra mục tiêu:
+ Đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp cơ bản phát triển theo hướng hiện đại.
+ ĐH VIII đã chỉ ra mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
+ ĐH VIII tổng kết phương châm: phát triển kinh tế là trọng tâm; xây dựng đảng, chỉnh đốn đảng là nhiệm vụ then chốt ( tập trung phát triển lực lượng sản xuất từng bước hình thành quan hệ sản xuất phù hợp).
+ ĐH VIII đã bổ sung thêm cho đường lối đổi mới là chiến lược CNH-HĐH đất nước.
- Đại hội IX (4/2001).
+ ĐH đã tổng kết cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, rút ra  3 thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử, thắng lợi CMT8/1945; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai; thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đi lên CNXH ở nước ta.
+ ĐH đã dự báo về thời cuộc và thời đại, những đòi hỏi của cách mạng Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI. Đề ra quan điểm kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới trên cơ sở phát huy nội lực là chính, tranh thủ ngoại lực, chủ động tích cực hôi nhập kinh tế quốc tế.
+ ĐH đã đưa ra thuật ngữ kinh tế thị trường định hướng XHCN và coi đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong suốt quá trình quá độ lên CNXH.
+ Đưa mục tiêu dân chủ vào mục tiêu chung: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
+ ĐH đã đề ra chiến lước phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển.
- Đại hội X (4/2006).
+ ĐH đã tổng kết 20 năm đổi mới và bổ sung cho những đặc trưng cho CNXH ở nước ta gồm 8 đặc trưng và 8 phương hướng, chỉ đạo sự nghiệp xây dựng CNXH.
+ Đề ra nhiệm vụ phấn đấu đến 2020 Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển để trở thành nước có thu nhập trung bình.
+ ĐH X rất coi trọng công tác xây dựng đảng và chỉnh đốn đảng trong quá trình đảng cầm quyền; phát triển kinh tế thị trường, định hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
- Đại hội XI (1/2011).
+ Đại hội đã tổng kết 25 năm đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991.
+ ĐH đã bổ sung và phát triển cương lĩnh năm 1991 trên tất cả các nội dung. Đặc biệt là trong mô hình, phương hướng chỉ đạo sự nghiệp xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ của nước ta: 8 đặc trưng, 8 phương hướng cơ bản và 8 mối quan hệ lớn.
+ ĐH đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với mục tiêu biến Việt Nam trở thành nước công nghiệp cơ bản phát triển theo hướng hiện đại vào năm 2020.
+ Bổ sung và sửa đổi điều lệ đảng.
A.                Kết luận – Liên hệ thực tiễn:
Có thể nói, quá trình tìm tòi đường lối đổi mới và sự phát triển nhận thức của đảng ta về con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ qua các kỳ Đại hội. Nó mang lại những thành tựu mang ý nghĩa to lớn: Việt nam từ một quốc gia bị phong toả cấm vận, từ một nền kinh tế kém phát triển và đóng cửa. Sau 25 năm đổi mới Việt Nam đã vươn mạnh ra thế giới, đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước và vùng lãnh thổ, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với 220 quốc gia. Việt Nam còn là thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực và điều đáng nói nhất là năm 2007 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO).
+ Phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc, Vịêt Nam đã về đích 10 năm với mục tiêu xoá đói giảm nghèo trong thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ.
+ Độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội được giữ vững, lợi thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo con đường XHCN.

Đổi mới làm cho bộ mặt đất nước và con người Việt Nam hoàn toàn thay đổi. Dư luận thế giới cũng đồng tình và thừa nhận những thành tựu đổi mới của ĐN ta. Điều đó khiến cho mỗi người VN chúng ta thêm tự hào về Đảng, về đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng.Là 1 đảng viên, tôi hoàn toàn tin tưởng về con đường đi đúng đắn của DT, chắc chắn VN chúng ta sẽ xây dựng thành công Chủ nghĩa Xã hội như mong mỏi của Bác trước lúc Người ra đi.